Hiểu luật để sống tốt đẹp hơn

Xác định pháp luật áp dụng cho hoạt động công nghệ có yếu tố nước ngoài

Pháp luật áp dụng cho hoạt động công nghệ có yếu tố nước ngoài được xác định theo loại quan hệ phát sinh, điều ước quốc tế, pháp luật Việt Nam và thỏa thuận lựa chọn pháp luật của các bên trong phạm vi được phép. Với hoạt động chuyển giao công nghệ, cần đồng thời kiểm tra các quy định chuyên ngành và các giới hạn bắt buộc của pháp luật Việt Nam.
Hoạt động công nghệ có yếu tố nước ngoài không mặc nhiên chỉ áp dụng pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật của nước có đối tác nước ngoài. Việc xác định pháp luật áp dụng phải bắt đầu từ việc xác định quan hệ pháp lý cụ thể đang phát sinh, sau đó đối chiếu điều ước quốc tế, luật chuyên ngành và các quy tắc của pháp luật Việt Nam về quan hệ có yếu tố nước ngoài.
Xác định pháp luật áp dụng cho hoạt động công nghệ có yếu tố nước ngoài

Đối với hoạt động chuyển giao công nghệ, pháp luật hiện hành xác định phạm vi điều chỉnh bao gồm chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài. Văn bản hợp nhất hiện hành về chuyển giao công nghệ là Văn bản hợp nhất số 32/VBHN-VPQH ngày 13/3/2026, đã hợp nhất các sửa đổi có hiệu lực đến năm 2026.

Pháp luật áp dụng trước hết phụ thuộc vào loại quan hệ công nghệ phát sinh

Điểm cần xác định đầu tiên không phải là “đối tác là người nước nào”, mà là quan hệ nào đang cần xác định pháp luật áp dụng.

Nếu hoạt động công nghệ tạo ra một quan hệ dân sự hoặc hợp đồng có yếu tố nước ngoài, các quy tắc về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ có ý nghĩa trung tâm. Bộ luật Dân sự xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có trường hợp một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài hoặc việc xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài hoặc đối tượng của quan hệ ở nước ngoài.

Trong khi đó, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện hành áp dụng đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam và cả hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam khi chủ thể có quyền, nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Vì vậy, cùng là một “hoạt động công nghệ” nhưng pháp luật áp dụng có thể được xác định khác nhau tùy quan hệ cụ thể, chẳng hạn:

·         Quan hệ hợp đồng chuyển giao công nghệ

·         Quan hệ về quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ

·         Quan hệ đầu tư có sử dụng hoặc chuyển giao công nghệ

·         Quan hệ thương mại liên quan đến công nghệ

·         Quan hệ quản lý nhà nước đối với công nghệ

Đây là bước phân loại quan trọng vì không thể dùng một quy tắc xung đột pháp luật duy nhất cho mọi vấn đề phát sinh từ hoạt động công nghệ.

Pháp luật áp dụng cho hoạt động công nghệ có yếu tố nước ngoài xác định thế nào?

Điều ước quốc tế và luật chuyên ngành được ưu tiên xem xét

Đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Bộ luật Dân sự quy định pháp luật áp dụng được xác định theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo pháp luật Việt Nam. Nếu điều ước quốc tế có quy định khác về pháp luật áp dụng thì quy định của điều ước quốc tế được áp dụng.

Đối với hoạt động chuyển giao công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ là luật chuyên ngành. Luật hiện hành quy định hợp đồng chuyển giao công nghệ được giao kết và thực hiện theo Luật Chuyển giao công nghệ, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Cạnh tranh và các quy định pháp luật có liên quan.

Do đó, khi xác định pháp luật áp dụng cho một giao dịch công nghệ xuyên biên giới, cần thực hiện theo logic:

1.    Xác định có điều ước quốc tế liên quan hay không

2.    Xác định luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động công nghệ

3.    Xác định quy tắc xung đột pháp luật của Bộ luật Dân sự hoặc luật có liên quan

4.    Xem xét quyền lựa chọn pháp luật của các bên

5.    Kiểm tra các quy định bắt buộc vẫn phải tuân thủ tại Việt Nam

Các bên có thể lựa chọn pháp luật áp dụng trong những trường hợp được phép

Đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Bộ luật Dân sự cho phép các bên lựa chọn pháp luật áp dụng khi điều ước quốc tế hoặc luật Việt Nam cho phép lựa chọn. Nếu có quyền lựa chọn, pháp luật áp dụng được xác định theo lựa chọn của các bên.

Đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài, nguyên tắc cụ thể hơn được quy định tại Điều 683 Bộ luật Dân sự: các bên có thể thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng, trừ các trường hợp bị loại trừ bởi chính điều luật này; nếu không có thỏa thuận thì áp dụng pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng.

Vì vậy, trong một hợp đồng công nghệ có yếu tố nước ngoài, điều khoản lựa chọn pháp luật có thể giữ vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, việc lựa chọn này không đồng nghĩa với việc các bên có thể loại bỏ mọi quy định bắt buộc của pháp luật Việt Nam.

Ví dụ, các bên có thể lựa chọn pháp luật của một nước để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ hợp đồng trong phạm vi pháp luật cho phép, nhưng nếu hoạt động tại Việt Nam đồng thời thuộc diện phải xin phép, đăng ký hoặc tuân thủ điều kiện quản lý công nghệ thì các nghĩa vụ quản lý đó vẫn phải được xem xét theo quy định tương ứng của Việt Nam.

Nếu không có thỏa thuận lựa chọn thì xác định pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất

Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng từ điều ước quốc tế, luật Việt Nam hoặc thỏa thuận lựa chọn hợp lệ, Bộ luật Dân sự áp dụng nguyên tắc pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

Đối với hợp đồng, Điều 683 Bộ luật Dân sự cũng sử dụng tiêu chí mối liên hệ gắn bó nhất và đưa ra các căn cứ cụ thể tùy loại hợp đồng.

Trong giao dịch công nghệ xuyên biên giới, việc xác định mối liên hệ này có thể phải xem xét đồng thời nhiều yếu tố như:

·         Nơi các bên cư trú hoặc được thành lập

·         Nơi hợp đồng được giao kết hoặc thực hiện

·         Nơi công nghệ được chuyển giao và ứng dụng

·         Nơi có đối tượng tài sản hoặc quyền liên quan

·         Nơi phát sinh phần nghĩa vụ chủ yếu

·         Đặc điểm của loại hợp đồng hoặc quan hệ pháp lý cụ thể

Do đó, không thể chỉ dựa vào quốc tịch của một bên để kết luận ngay pháp luật của nước đó được áp dụng.

Với chuyển giao công nghệ, vẫn phải tuân thủ các quy định quản lý bắt buộc của Việt Nam

Đây là ranh giới quan trọng giữa pháp luật điều chỉnh hợp đồngpháp luật quản lý hoạt động công nghệ.

Theo Luật Chuyển giao công nghệ hiện hành, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của luật. Luật cũng quy định một số trường hợp phải đăng ký, trong đó có chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài.

Đối với công nghệ hạn chế chuyển giao, pháp luật còn đặt ra cơ chế cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ. Hợp đồng thuộc trường hợp này chỉ có hiệu lực từ thời điểm được cấp Giấy phép; đối với hợp đồng thuộc trường hợp phải đăng ký, hiệu lực được gắn với Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ theo quy định tương ứng.

Điều đó cho thấy một hợp đồng có thể được các bên lựa chọn pháp luật nước ngoài ở phần quan hệ hợp đồng nếu đáp ứng điều kiện pháp luật, nhưng không vì thế mà được miễn các thủ tục hoặc điều kiện quản lý công nghệ bắt buộc tại Việt Nam.

Pháp luật nước ngoài không được áp dụng nếu trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Việc dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài cũng có giới hạn.

Theo Bộ luật Dân sự, pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu đến không được áp dụng nếu hậu quả của việc áp dụng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam hoặc nội dung pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi đó, pháp luật Việt Nam được áp dụng.

Đối với giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài, Luật Thương mại cũng ghi nhận quyền thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế, nhưng đặt ra giới hạn không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Vì vậy, khi soạn hợp đồng công nghệ xuyên biên giới, không nên chỉ kiểm tra xem “có được chọn luật nước ngoài hay không”, mà còn phải kiểm tra:

·         Nội dung pháp luật được lựa chọn

·         Phạm vi của điều khoản lựa chọn luật

·         Các quy định bắt buộc của pháp luật Việt Nam

·         Điều ước quốc tế liên quan

·         Điều kiện, giấy phép hoặc đăng ký đối với công nghệ cụ thể

·         Quyền sở hữu trí tuệ và các hạn chế liên quan

Có thể xác định pháp luật áp dụng theo trình tự nào?

Đối với một hoạt động công nghệ có yếu tố nước ngoài, có thể kiểm tra theo trình tự sau:

Bước 1: Xác định yếu tố nước ngoài

Xác định chủ thể, địa điểm thực hiện, đối tượng công nghệ hoặc căn cứ xác lập quan hệ có yếu tố nước ngoài hay không. Bộ luật Dân sự đưa ra các tiêu chí trực tiếp cho việc nhận diện quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

Bước 2: Xác định quan hệ pháp lý cần điều chỉnh

Phải phân biệt đây là hợp đồng công nghệ, chuyển giao công nghệ, quan hệ sở hữu trí tuệ, đầu tư, thương mại hay quan hệ quản lý nhà nước.

Bước 3: Kiểm tra điều ước quốc tế và luật chuyên ngành

Nếu có điều ước quốc tế áp dụng hoặc luật chuyên ngành có quy định về vấn đề đang xét thì phải ưu tiên đối chiếu các quy định đó. Với chuyển giao công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ hiện hành là văn bản chuyên ngành quan trọng.

Bước 4: Kiểm tra điều khoản lựa chọn pháp luật

Nếu pháp luật cho phép, xác định các bên có thỏa thuận lựa chọn pháp luật hay không và phạm vi lựa chọn đó.

Bước 5: Nếu không có lựa chọn, xác định nước có mối liên hệ gắn bó nhất

Đây là cơ chế dự phòng theo Bộ luật Dân sự đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và hợp đồng.

Bước 6: Kiểm tra các quy định bắt buộc của Việt Nam

Đặc biệt đối với chuyển giao công nghệ vào hoặc ra khỏi Việt Nam, cần kiểm tra nghĩa vụ đăng ký, giấy phép, hạn chế chuyển giao và các yêu cầu chuyên ngành có liên quan.

Bước 7: Kiểm tra giới hạn áp dụng pháp luật nước ngoài

Nếu pháp luật nước ngoài được lựa chọn hoặc dẫn chiếu đến, phải bảo đảm việc áp dụng không dẫn đến hậu quả trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Như vậy, pháp luật áp dụng cho hoạt động công nghệ có yếu tố nước ngoài không được xác định chỉ bằng một tiêu chí duy nhất. Cần kết hợp quy tắc về điều ước quốc tế, luật chuyên ngành, quyền lựa chọn pháp luật, nguyên tắc mối liên hệ gắn bó nhất và các quy định bắt buộc của pháp luật Việt Nam. Đối với chuyển giao công nghệ xuyên biên giới, việc lựa chọn pháp luật điều chỉnh hợp đồng phải được tách biệt với nghĩa vụ xin phép, đăng ký và tuân thủ các điều kiện quản lý công nghệ tại Việt Nam.

21/09/2026 01:16:48
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN