Quyền kinh doanh của chủ thể được xác định thế nào?
- Phạm vi quyền kinh doanh bắt đầu từ nguyên tắc tự do kinh doanh
- Ngành, nghề bị cấm là giới hạn tuyệt đối của quyền kinh doanh
- Ngành, nghề có điều kiện chỉ được kinh doanh khi đáp ứng đúng điều kiện pháp luật
- Quyền kinh doanh còn nằm trong khuôn khổ của pháp luật chuyên ngành
- Giới hạn quyền còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng chủ thể
- Cách xác định phạm vi quyền kinh doanh trong thực tế
Tuy nhiên, “không bị cấm” mới là điều kiện đầu tiên. Khi đi vào hoạt động cụ thể, chủ thể còn phải xem ngành, nghề có thuộc nhóm đầu tư kinh doanh có điều kiện hay không, có chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành hay không và bản thân chủ thể có thuộc trường hợp bị áp dụng giới hạn riêng hay không. Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, tiếp tục xác lập cơ chế này khi cho phép nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề Luật không cấm và yêu cầu đáp ứng điều kiện pháp luật đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Phạm vi quyền kinh doanh bắt đầu từ nguyên tắc tự do kinh doanh
Về bản chất, quyền kinh doanh không được xây dựng theo nguyên tắc “chỉ được làm những gì cơ quan nhà nước cho phép”. Điểm xuất phát là quyền lựa chọn hoạt động kinh doanh trong phạm vi pháp luật không cấm.
Ở cấp độ Hiến pháp, Điều 33 sử dụng chủ thể là “mọi người”. Đồng thời, Điều 14 Hiến pháp xác định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong những trường hợp cần thiết vì quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, quyền tự do kinh doanh được bảo đảm nhưng vẫn vận hành trong khuôn khổ những giới hạn pháp lý có căn cứ.
Ở cấp độ pháp luật đầu tư, khoản 1 Điều 5 Luật Đầu tư 2025 quy định nhà đầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề mà Luật không cấm. Nhà đầu tư đồng thời được tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư và pháp luật có liên quan.
Điều đó cho thấy phạm vi của quyền kinh doanh của chủ thể được xác định theo hai chiều: pháp luật bảo đảm không gian tự do cho chủ thể, nhưng chủ thể phải tự chịu trách nhiệm về việc hoạt động của mình có nằm trong giới hạn pháp luật hay không.

Ngành, nghề bị cấm là giới hạn tuyệt đối của quyền kinh doanh
Ranh giới rõ nhất của quyền kinh doanh là các hoạt động thuộc danh mục cấm đầu tư kinh doanh. Khi một hoạt động đã nằm trong phạm vi cấm thì chủ thể không thể hợp pháp hóa hoạt động đó chỉ bằng việc thành lập doanh nghiệp, đăng ký ngành nghề hay đáp ứng một số điều kiện kỹ thuật.
Điều 6 Luật Đầu tư 2025 xác định các hoạt động bị cấm, trong đó có kinh doanh một số chất ma túy; một số hóa chất, khoáng vật; một số mẫu vật động, thực vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên; kinh doanh mại dâm; mua bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể và bào thai người; hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người; kinh doanh pháo nổ; dịch vụ đòi nợ; mua bán bảo vật quốc gia; xuất khẩu di vật, cổ vật; và kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Cần phân biệt “cấm kinh doanh” với việc pháp luật cho phép một số sản phẩm hoặc đối tượng đặc biệt được sản xuất, sử dụng trong những mục đích được kiểm soát. Chẳng hạn, Luật Đầu tư cho phép Chính phủ quy định việc sản xuất, sử dụng một số sản phẩm thuộc nhóm ma túy, hóa chất, khoáng vật hoặc mẫu vật động, thực vật trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, điều tra tội phạm, quốc phòng và an ninh. Đây không phải là sự mở rộng quyền kinh doanh thông thường mà là ngoại lệ có mục đích và điều kiện pháp lý riêng.
Vì vậy, bước đầu tiên khi xác định phạm vi quyền kinh doanh luôn là kiểm tra xem hoạt động dự kiến có thuộc nhóm pháp luật cấm hay không.
Ngành, nghề có điều kiện chỉ được kinh doanh khi đáp ứng đúng điều kiện pháp luật
Không thuộc danh mục cấm không có nghĩa là chủ thể có thể ngay lập tức tiến hành mọi hoạt động kinh doanh. Một số ngành, nghề được phép kinh doanh nhưng việc thực hiện phải đáp ứng các điều kiện nhất định.
Điều 7 Luật Đầu tư 2025 xác định ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là những ngành, nghề mà việc đặt ra điều kiện cần thiết vì các lý do như quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe cộng đồng. Danh mục các ngành, nghề này được quy định tại Phụ lục IV của Luật.
Giới hạn ở đây khác với ngành, nghề bị cấm. Với ngành nghề bị cấm, chủ thể không có quyền thực hiện hoạt động kinh doanh đó. Với ngành nghề có điều kiện, quyền kinh doanh tồn tại nhưng việc thực hiện quyền phụ thuộc vào việc đáp ứng điều kiện tương ứng.
Điều kiện có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức như giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền; ngoài ra còn có những yêu cầu mà chủ thể phải tự đáp ứng mà không nhất thiết phải được cơ quan nhà nước xác nhận bằng văn bản.
Một điểm quan trọng là không phải bất kỳ cơ quan nào cũng có quyền tự đặt thêm điều kiện kinh doanh. Luật Đầu tư 2025 giới hạn nguồn có thể quy định điều kiện đầu tư kinh doanh ở luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức khác không được tự ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh.
Cơ chế này vừa giới hạn chủ thể kinh doanh, vừa giới hạn chính quyền trong việc đặt ra rào cản đối với quyền kinh doanh.
Quyền kinh doanh còn nằm trong khuôn khổ của pháp luật chuyên ngành
Một cách hiểu chưa đầy đủ thường gặp là: chỉ cần hoạt động không nằm trong danh mục cấm và đã đáp ứng điều kiện kinh doanh thì chủ thể có toàn quyền thực hiện hoạt động đó. Trên thực tế, quyền kinh doanh còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật liên quan đến chính hoạt động đang được thực hiện.
Luật Đầu tư 2025 quy định hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam phải thực hiện theo Luật Đầu tư và các luật khác có liên quan. Đối với những lĩnh vực đặc thù, trình tự, thủ tục hoặc điều kiện còn được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành, chẳng hạn pháp luật về tổ chức tín dụng, kinh doanh bảo hiểm, dầu khí, chứng khoán, xây dựng, nhà ở và kinh doanh bất động sản.
Do đó, quyền được kinh doanh một ngành nghề không đồng nghĩa với quyền bỏ qua các yêu cầu pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động. Chủ thể vẫn có thể phải tuân thủ những quy định liên quan đến đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, thuế, chất lượng sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng hoặc các chuẩn mực chuyên ngành tương ứng.
Cách xác định đúng là tách hai vấn đề: quyền gia nhập và thực hiện hoạt động kinh doanh là một lớp pháp lý; cách thức tiến hành hoạt động đó hợp pháp lại là lớp pháp lý tiếp theo. Có quyền kinh doanh không đồng nghĩa với được miễn các nghĩa vụ pháp luật gắn với hoạt động kinh doanh.
Giới hạn quyền còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng chủ thể
Phạm vi quyền kinh doanh không phải lúc nào cũng giống nhau đối với mọi chủ thể. Đặc điểm pháp lý của chủ thể có thể làm phát sinh những giới hạn bổ sung.
Ví dụ rõ nhất là nhà đầu tư nước ngoài. Theo Điều 8 Luật Đầu tư 2025, về nguyên tắc nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như nhà đầu tư trong nước, trừ các ngành, nghề thuộc Danh mục hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Danh mục này bao gồm ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường và ngành, nghề được tiếp cận nhưng có điều kiện.
Các điều kiện có thể liên quan đến tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ, hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, năng lực của nhà đầu tư, đối tác tham gia hoạt động đầu tư hoặc những yêu cầu khác do pháp luật và điều ước quốc tế quy định.
Như vậy, không thể chỉ nhìn vào tên ngành nghề để kết luận một chủ thể có quyền kinh doanh đến đâu. Phải đồng thời xác định ai là người thực hiện quyền, bởi cùng một hoạt động nhưng điều kiện pháp lý có thể khác nhau tùy tư cách của chủ thể.
Bên cạnh đó, ngay cả khi hoạt động thuộc phạm vi được phép, Luật Đầu tư còn quy định nhà đầu tư có thể bị đình chỉ, ngừng hoặc chấm dứt hoạt động đầu tư kinh doanh nếu hoạt động gây phương hại hoặc có nguy cơ gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia. Đây là biểu hiện trực tiếp của nguyên tắc quyền kinh doanh không phải quyền tuyệt đối.
Cách xác định phạm vi quyền kinh doanh trong thực tế
Để đánh giá một chủ thể có thể thực hiện một hoạt động kinh doanh cụ thể đến đâu, không nên chỉ kiểm tra việc chủ thể đã đăng ký kinh doanh hay chưa. Cần xác định lần lượt bốn lớp pháp lý.
Trước hết, phải xác định hoạt động đó có thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh hay không. Nếu thuộc phạm vi cấm thì về nguyên tắc không thể tiến hành dưới hình thức kinh doanh thông thường.
Tiếp theo, nếu không bị cấm, cần kiểm tra hoạt động có thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hay không. Nếu có, phải xác định chính xác điều kiện áp dụng, hình thức chứng minh và thời điểm phải đáp ứng điều kiện.
Sau đó, cần đối chiếu pháp luật chuyên ngành điều chỉnh cách thức vận hành hoạt động. Một hoạt động được phép kinh doanh vẫn có thể phải đáp ứng thêm yêu cầu về cơ sở vật chất, nhân sự, tiêu chuẩn chuyên môn, môi trường, an toàn hoặc thủ tục chuyên ngành tùy lĩnh vực.
Cuối cùng, phải kiểm tra tư cách của chủ thể. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, chẳng hạn, cần kiểm tra thêm điều kiện tiếp cận thị trường. Trong các trường hợp khác, phạm vi quyền cũng phải được xác định theo loại hình và địa vị pháp lý cụ thể của người thực hiện.
Cách tiếp cận này phản ánh đúng cơ chế pháp luật hiện hành: Luật Đầu tư 2025 quy định quyền thực hiện hoạt động trong ngành, nghề không bị cấm, đồng thời đặt hoạt động kinh doanh dưới hệ thống điều kiện, giới hạn và pháp luật liên quan. Luật này đã có hiệu lực từ ngày 01/03/2026.
Tóm lại, quyền kinh doanh của chủ thể được pháp luật xác định trong phạm vi những hoạt động mà pháp luật không cấm, nhưng việc thực hiện quyền phải tiếp tục đáp ứng các điều kiện kinh doanh, quy định pháp luật chuyên ngành và giới hạn gắn với tư cách của từng chủ thể. Quyền tự do kinh doanh vì thế là một quyền được Hiến pháp bảo đảm, nhưng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật chứ không phải quyền tự do không giới hạn.
