Những giới hạn quyền kinh doanh theo pháp luật
- Quyền kinh doanh được bảo đảm nhưng có thể bị giới hạn theo luật
- Cấm kinh doanh là mức giới hạn mạnh nhất
- Ngành nghề có điều kiện giới hạn cách thức thực hiện quyền kinh doanh
- Nhà đầu tư nước ngoài có thể chịu giới hạn tiếp cận thị trường
- Hoạt động kinh doanh đang thực hiện vẫn có thể bị buộc ngừng
- Giới hạn quyền kinh doanh phải đúng căn cứ và đúng thẩm quyền
Trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc này: nhà đầu tư được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề mà Luật không cấm; với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện tương ứng. Vì vậy, giới hạn quyền kinh doanh không chỉ thể hiện ở việc cấm hoàn toàn một số hoạt động mà còn có thể xuất hiện dưới dạng điều kiện kinh doanh, giới hạn tiếp cận thị trường hoặc quyết định ngừng, chấm dứt hoạt động trong những trường hợp luật định.
Quyền kinh doanh được bảo đảm nhưng có thể bị giới hạn theo luật
Điều 33 Hiến pháp năm 2013 xác lập nền tảng của quyền tự do kinh doanh khi quy định mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng: về nguyên tắc, cá nhân và tổ chức không phải chờ Nhà nước cho phép đối với mọi hoạt động kinh doanh; giới hạn phải có căn cứ pháp lý.
Tuy nhiên, quyền kinh doanh nằm trong hệ thống quyền con người, quyền công dân và không mang tính tuyệt đối. Điều 14 Hiến pháp đặt ra nguyên tắc chung rằng quyền chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì các lý do như quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe của cộng đồng. Đây cũng chính là những nhóm lợi ích công cộng được pháp luật đầu tư sử dụng để xác định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Điểm cần phân biệt là giới hạn quyền kinh doanh không đồng nghĩa với việc Nhà nước có thể tùy ý đặt thêm rào cản. Khi một hạn chế tác động đến việc một chủ thể có được kinh doanh hay không, hoặc phải đáp ứng điều kiện nào mới được kinh doanh, hạn chế đó phải xuất phát từ căn cứ và thẩm quyền pháp luật quy định.

Cấm kinh doanh là mức giới hạn mạnh nhất
Một hình thức giới hạn trực tiếp là pháp luật loại trừ hoàn toàn một số hoạt động khỏi phạm vi tự do đầu tư kinh doanh.
Điều 6 Luật Đầu tư 2025 cấm đầu tư kinh doanh đối với các hoạt động như kinh doanh một số chất ma túy; hóa chất, khoáng vật thuộc danh mục cấm; một số mẫu vật động, thực vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên; mại dâm; mua bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể hoặc bào thai người; hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người; pháo nổ; dịch vụ đòi nợ; mua bán bảo vật quốc gia; xuất khẩu di vật, cổ vật; thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng.
Cơ chế ở đây khác với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Với ngành nghề bị cấm, chủ thể không thể khắc phục bằng cách xin thêm giấy phép hoặc đáp ứng thêm tiêu chuẩn để được kinh doanh. Bản thân hoạt động kinh doanh đó đã nằm ngoài phạm vi quyền được pháp luật cho phép.
Tuy vậy, luật cũng xác lập ranh giới cho chính lệnh cấm. Chẳng hạn, đối với một số sản phẩm thuộc nhóm ma túy, hóa chất, khoáng vật hoặc mẫu vật động, thực vật, việc sản xuất hoặc sử dụng cho phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, điều tra tội phạm, quốc phòng hoặc an ninh được thực hiện theo cơ chế do Chính phủ quy định. Điều này cho thấy cần xác định chính xác hoạt động nào bị cấm và mục đích sử dụng nào thuộc ngoại lệ, thay vì hiểu rằng mọi hoạt động liên quan đến đối tượng bị liệt kê đều mặc nhiên bất hợp pháp.
Ngành nghề có điều kiện giới hạn cách thức thực hiện quyền kinh doanh
Không phải hoạt động có rủi ro đều bị cấm. Với nhiều lĩnh vực, pháp luật vẫn cho phép kinh doanh nhưng yêu cầu chủ thể đáp ứng những điều kiện nhất định.
Theo Điều 7 Luật Đầu tư 2025, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là những ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động kinh doanh phải đáp ứng điều kiện cần thiết vì quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe cộng đồng. Phụ lục IV của Luật hiện quy định 198 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Điều kiện có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức, gồm:
· Giấy phép
· Giấy chứng nhận
· Chứng chỉ
· Văn bản xác nhận hoặc chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền
· Yêu cầu khác mà cá nhân, tổ chức phải tự đáp ứng để được thực hiện hoạt động kinh doanh mà không nhất thiết cần văn bản xác nhận của cơ quan nhà nước
Như vậy, “được quyền kinh doanh” và “được phép bắt đầu ngay hoạt động kinh doanh” không phải lúc nào cũng là một. Một doanh nghiệp có thể được thành lập hợp pháp nhưng nếu ngành nghề thuộc nhóm kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được triển khai hoạt động khi đã đáp ứng đầy đủ điều kiện tương ứng.
Đáng chú ý, Luật Đầu tư 2025 còn giới hạn chính quyền lực đặt ra điều kiện kinh doanh. Điều kiện phải được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh hoặc nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được tự ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh.
Đây là một ranh giới pháp lý quan trọng: pháp luật vừa cho phép áp dụng điều kiện để quản lý rủi ro, vừa hạn chế khả năng tạo ra “giấy phép con” hoặc điều kiện ngoài thẩm quyền.
Nhà đầu tư nước ngoài có thể chịu giới hạn tiếp cận thị trường
Quyền đầu tư kinh doanh còn có thể khác nhau tùy tư cách của chủ thể. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, nguyên tắc của Luật Đầu tư 2025 là được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như nhà đầu tư trong nước, trừ những ngành, nghề thuộc Danh mục hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Danh mục hạn chế có thể gồm hai nhóm: ngành, nghề nhà đầu tư nước ngoài chưa được tiếp cận thị trường và ngành, nghề được tiếp cận nhưng phải đáp ứng điều kiện.
Các giới hạn cụ thể có thể liên quan đến tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài, hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, năng lực của nhà đầu tư, đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư hoặc những điều kiện khác do pháp luật và điều ước quốc tế có liên quan quy định.
Do đó, việc một ngành nghề không bị cấm và cũng không nằm ngoài phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp chưa đủ để kết luận nhà đầu tư nước ngoài có quyền tiếp cận hoàn toàn giống nhà đầu tư trong nước. Tư cách nhà đầu tư và điều kiện tiếp cận thị trường phải được kiểm tra riêng.
Hoạt động kinh doanh đang thực hiện vẫn có thể bị buộc ngừng
Giới hạn quyền kinh doanh không chỉ xuất hiện trước thời điểm gia nhập thị trường. Trong quá trình thực hiện dự án, cơ quan có thẩm quyền có thể quyết định ngừng hoặc ngừng một phần hoạt động khi phát sinh những căn cứ luật định.
Điều 35 Luật Đầu tư 2025 cho phép cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư quyết định ngừng hoạt động trong một số trường hợp như bảo vệ di tích, di vật, cổ vật hoặc bảo vật quốc gia; khắc phục vi phạm pháp luật về môi trường; hoặc thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn lao động. Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền quyết định ngừng hoặc ngừng một phần dự án nếu việc thực hiện dự án gây phương hại hoặc có nguy cơ gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia hoặc môi trường.
Cơ chế này phản ánh một điểm quan trọng: việc đã được thành lập doanh nghiệp, được chấp thuận dự án hoặc đã đáp ứng điều kiện kinh doanh không tạo ra quyền hoạt động vô điều kiện trong tương lai. Quyền tiếp tục kinh doanh phụ thuộc vào việc chủ thể duy trì sự tuân thủ và không xâm phạm những lợi ích mà pháp luật bảo vệ.
Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, dự án còn có thể bị chấm dứt. Luật quy định các căn cứ như không thể khắc phục nguyên nhân đã dẫn đến quyết định ngừng hoạt động, không hoàn thành mục tiêu dự án trong thời hạn luật định, không còn quyền sử dụng địa điểm mà không điều chỉnh địa điểm đầu tư, bị thu hồi đất, không thực hiện nghĩa vụ ký quỹ hoặc bảo lãnh, thực hiện đầu tư trên cơ sở giao dịch dân sự giả tạo, hoặc phải chấm dứt theo bản án, quyết định của Tòa án hay phán quyết trọng tài.
Giới hạn quyền kinh doanh phải đúng căn cứ và đúng thẩm quyền
Điểm cốt lõi không phải cứ có mục tiêu quản lý nhà nước thì mọi biện pháp hạn chế kinh doanh đều hợp pháp. Một giới hạn hợp pháp phải được đặt trong đúng khuôn khổ mà Hiến pháp và luật cho phép.
Đối với điều kiện đầu tư kinh doanh, Luật Đầu tư yêu cầu điều kiện phải phù hợp với mục đích quản lý được luật xác định và phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, đồng thời tiết kiệm thời gian và chi phí tuân thủ cho nhà đầu tư. Quy định về điều kiện còn phải xác định được đối tượng, phạm vi áp dụng, hình thức, nội dung điều kiện, thủ tục hành chính và cơ quan giải quyết nếu có.
Vì vậy, khi đánh giá một yêu cầu của cơ quan quản lý có phải là giới hạn quyền kinh doanh hợp pháp hay không, không nên chỉ hỏi “yêu cầu này có hợp lý không”. Cần kiểm tra ít nhất ba tầng: hoạt động đó có thuộc ngành nghề cấm hoặc có điều kiện hay không; văn bản đặt ra hạn chế có đúng loại văn bản và đúng thẩm quyền hay không; và chủ thể, phạm vi, thủ tục áp dụng có đúng với quy định hiện hành hay không.
Cách kiểm tra này đặc biệt quan trọng vì hệ thống điều kiện kinh doanh đang tiếp tục được rà soát, cắt giảm. Bộ Tư pháp cho biết Phụ lục IV Luật Đầu tư 2025 hiện có 198 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và trong năm 2026 các cơ quan tiếp tục đề xuất cắt giảm một phần danh mục cũng như các điều kiện không cần thiết.
Quyền kinh doanh tại Việt Nam được bảo đảm theo nguyên tắc chủ thể được tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm, nhưng quyền này có thể chịu giới hạn khi có căn cứ luật định. Các giới hạn quan trọng gồm cấm một số hoạt động kinh doanh, yêu cầu đáp ứng điều kiện đối với ngành nghề có điều kiện, hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài và ngừng hoặc chấm dứt hoạt động khi phát sinh căn cứ pháp luật.
Điểm quyết định là giới hạn đó phải có căn cứ, mục đích, phạm vi và thẩm quyền hợp pháp. Do đó, khi một cá nhân hoặc doanh nghiệp gặp yêu cầu làm hạn chế khả năng gia nhập hoặc tiếp tục kinh doanh, cần đối chiếu trực tiếp với quy định đang có hiệu lực thay vì mặc nhiên xem mọi yêu cầu quản lý là một giới hạn hợp pháp của quyền kinh doanh.
Một doanh nghiệp đã đăng ký ngành nghề thì có mặc nhiên được kinh doanh không?
Không phải trong mọi trường hợp. Nếu hoạt động thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, chủ thể phải đáp ứng điều kiện tương ứng trước hoặc trong quá trình hoạt động theo cơ chế mà pháp luật chuyên ngành quy định.
Cơ quan địa phương có được tự đặt thêm điều kiện kinh doanh không?
Không. Theo Điều 7 Luật Đầu tư 2025, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp cũng như Bộ, cơ quan ngang Bộ và các chủ thể khác không được tự ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh ngoài những hình thức văn bản mà Luật cho phép.
Một hoạt động không bị cấm có đồng nghĩa được kinh doanh không điều kiện không?
Không. Hoạt động có thể không thuộc danh mục cấm nhưng vẫn thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hoặc, đối với nhà đầu tư nước ngoài, thuộc lĩnh vực hạn chế tiếp cận thị trường.
Quyền kinh doanh có thể bị hạn chế chỉ bằng văn bản hành chính của cơ quan quản lý không?
Việc hạn chế quyền phải tuân thủ căn cứ và thẩm quyền do Hiến pháp, luật và các văn bản được luật cho phép quy định. Riêng điều kiện đầu tư kinh doanh không được tự đặt ra bằng quyết định quản lý đơn lẻ hoặc quy định ngoài hệ thống văn bản mà Điều 7 Luật Đầu tư 2025 cho phép.
