Hiểu luật để sống tốt đẹp hơn
Dưới góc độ pháp luật Việt Nam hiện hành, dữ liệu là một đối tượng pháp lý có tính chất đặc biệt: tồn tại chủ yếu dưới dạng phi vật chất, có thể được tạo lập, lưu trữ, sao chép và xử lý bằng công nghệ nhưng đồng thời có thể gắn với quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, quyền riêng tư, lợi ích thương mại và các yêu cầu về an ninh, an toàn.
Dữ liệu dưới góc độ pháp luật được nhìn nhận thế nào?

Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đã tạo cơ sở pháp lý trực tiếp cho cách tiếp cận này khi quy định về dữ liệu số, chủ thể dữ liệu, chủ sở hữu dữ liệu, việc xử lý, sử dụng và trao đổi giá trị của dữ liệu.

Điều quan trọng là không nên rút gọn vấn đề thành kết luận rằng “mọi dữ liệu đều là tài sản và đều có thể tự do mua bán”. Pháp luật phân biệt quyền đối với dữ liệu với chính nội dung mà dữ liệu phản ánh, đồng thời đặt việc khai thác dữ liệu dưới nhiều lớp giới hạn khác nhau tùy tính chất của dữ liệu.

Dữ liệu trước hết là một đối tượng phi vật chất được biểu hiện dưới dạng số

Luật Dữ liệu định nghĩa dữ liệu là sự thể hiện dưới dạng kỹ thuật số của sự vật, sự kiện, có thể tồn tại dưới dạng âm thanh, hình ảnh, chữ số, chữ viết, ký hiệu hoặc dạng tương tự khác. Như vậy, pháp luật không nhìn dữ liệu theo vật mang tin như máy chủ, ổ cứng hay thiết bị lưu trữ, mà tập trung vào nội dung được biểu hiện dưới dạng kỹ thuật số.

Đặc điểm này tạo ra sự khác biệt đáng kể so với tài sản hữu hình. Một chiếc máy tính có thể được giao cho người khác và chủ cũ không còn nắm giữ chiếc máy đó, trong khi một tập dữ liệu có thể được sao chép sang nhiều hệ thống mà bản gốc vẫn tiếp tục tồn tại. Việc một bên nhận được bản sao vì thế không tự động làm quyền của chủ thể khác đối với dữ liệu biến mất.

Khả năng sao chép gần như không làm hao mòn bản gốc cũng khiến quyền kiểm soát dữ liệu không thể chỉ dựa trên việc “ai đang cầm giữ”. Pháp luật phải quan tâm đến nguồn tạo lập, tư cách của các chủ thể, quyền truy cập, mục đích xử lý, điều kiện chia sẻ và giới hạn sử dụng.

Dữ liệu vì vậy có thể đồng thời liên quan đến nhiều vị trí pháp lý. Luật Dữ liệu phân biệt chủ thể dữ liệu là người hoặc tổ chức được dữ liệu phản ánh; chủ quản dữ liệu là bên quản lý, vận hành hoặc khai thác theo yêu cầu; và chủ sở hữu dữ liệu là bên có quyền quyết định đối với dữ liệu thuộc quyền của mình.

Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tế lớn. Người mà dữ liệu nói đến, người đang lưu giữ dữ liệu và người có quyền quyết định việc khai thác dữ liệu không nhất thiết là cùng một chủ thể.

Dữ liệu dưới góc độ pháp luật có những đặc điểm và giá trị nào?

Quyền của chủ sở hữu đối với dữ liệu được pháp luật xác định là quyền tài sản

Một bước phát triển đáng chú ý của Luật Dữ liệu là xác lập trực tiếp khái niệm “chủ sở hữu dữ liệu”. Theo luật, chủ sở hữu dữ liệu có quyền quyết định việc xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng và trao đổi giá trị của dữ liệu do mình sở hữu. Đặc biệt, khoản 15 Điều 3 xác định quyền của chủ sở hữu dữ liệu đối với dữ liệu là quyền tài sản theo pháp luật dân sự.

Quy định này cho thấy giá trị pháp lý của dữ liệu không chỉ nằm ở nội dung thông tin. Pháp luật còn thừa nhận một tập hợp quyền có giá trị kinh tế gắn với khả năng kiểm soát và khai thác dữ liệu.

Tuy nhiên, cần phân biệt hai mệnh đề: “quyền của chủ sở hữu đối với dữ liệu là quyền tài sản” và “mọi dữ liệu đương nhiên là một loại tài sản độc lập giống vật hoặc tiền”. Bộ luật Dân sự 2015 quy định tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Vì vậy, cơ sở rõ ràng nhất hiện nay là quyền của chủ sở hữu dữ liệu được Luật Dữ liệu định danh thành quyền tài sản; việc xác định chế độ pháp lý cụ thể của từng dữ liệu vẫn phải đặt trong quan hệ giữa Luật Dữ liệu, Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành.

Điểm này đặc biệt quan trọng trong giao dịch. Có giá trị kinh tế không đồng nghĩa với việc mọi quyền đối với dữ liệu đều có thể chuyển giao vô điều kiện. Một quyền tài sản chỉ có thể được thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép và không thể loại bỏ quyền của các chủ thể khác đang gắn với cùng dữ liệu.

Giá trị pháp lý của dữ liệu không đồng nhất với quyền sở hữu trí tuệ

Dữ liệu và quyền sở hữu trí tuệ có thể giao nhau nhưng không phải là một.

Luật Dữ liệu đặt ra nguyên tắc rằng dữ liệu là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ thì phải tuân thủ Luật Dữ liệu, pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật liên quan. Cách quy định này không có nghĩa mọi dữ liệu tự động được bảo hộ bản quyền, sáng chế hay một quyền sở hữu trí tuệ khác. Nó xác lập rằng khi dữ liệu đồng thời đáp ứng điều kiện của một đối tượng sở hữu trí tuệ, lớp pháp luật tương ứng tiếp tục được áp dụng.

Chẳng hạn, các con số phản ánh nhiệt độ tại một thời điểm và cách tuyển chọn, sắp xếp một cơ sở dữ liệu là hai vấn đề pháp lý khác nhau. Giá trị thông tin của từng con số không tự động làm phát sinh quyền tác giả đối với chính sự kiện khách quan mà con số phản ánh. Ngược lại, một cấu trúc cơ sở dữ liệu, tài liệu hoặc sản phẩm sáng tạo hình thành từ dữ liệu có thể đặt ra vấn đề sở hữu trí tuệ nếu đáp ứng điều kiện luật định.

Tương tự, dữ liệu có giá trị thương mại cũng có thể liên quan đến bí mật kinh doanh khi đáp ứng các điều kiện bảo hộ tương ứng. Nhưng giá trị thương mại của dữ liệu và tư cách bí mật kinh doanh vẫn là hai tầng đánh giá khác nhau.

Vì vậy, khi xác định một chủ thể “có quyền đối với dữ liệu”, phải tiếp tục hỏi quyền đó xuất phát từ đâu: quyền của chủ sở hữu dữ liệu theo Luật Dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, quyền theo hợp đồng, quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân hay một cơ sở pháp lý chuyên ngành khác.

Dữ liệu có khả năng được khai thác và trao đổi giá trị nhưng không phải loại dữ liệu nào cũng được tự do giao dịch

Luật Dữ liệu thừa nhận việc “trao đổi giá trị” là một trong các nội dung thuộc phạm vi quyết định của chủ sở hữu dữ liệu, đồng thời điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ liên quan đến dữ liệu. Điều đó phản ánh một đặc điểm kinh tế quan trọng: dữ liệu có thể tạo ra giá trị khi được thu thập, chuẩn hóa, phân tích, kết hợp hoặc sử dụng để cung cấp sản phẩm và dịch vụ.

Giá trị này không nhất thiết xuất phát từ việc bán chính một tập dữ liệu. Dữ liệu có thể tạo lợi ích thông qua quyền truy cập, kết quả phân tích, dịch vụ xác thực, mô hình dự báo, sản phẩm trung gian hoặc việc nâng cao hiệu quả của một quy trình kinh doanh.

Nhưng khả năng tạo giá trị không đồng nghĩa với khả năng thương mại hóa không giới hạn. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, nghiêm cấm mua, bán dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Đây là ví dụ rõ nhất cho thấy giá trị kinh tế của dữ liệu luôn chịu sự điều chỉnh bởi tính chất pháp lý của chính dữ liệu đó. Một tập dữ liệu có thể rất có giá trị về thương mại nhưng việc giao dịch vẫn có thể bị cấm hoặc bị giới hạn bởi quyền riêng tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước, an ninh quốc gia, quyền sở hữu trí tuệ hoặc nghĩa vụ bảo mật.

Vì thế, đánh giá khả năng khai thác dữ liệu phải đi theo thứ tự: xác định loại dữ liệu, xác định chủ thể có quyền, xác định mục đích sử dụng, rồi mới đánh giá quyền chuyển giao hoặc trao đổi giá trị.

Giá trị pháp lý của dữ liệu phụ thuộc mạnh vào chất lượng và khả năng xác thực

Không phải cứ có dữ liệu là dữ liệu đó có giá trị chứng minh như nhau.

Luật Dữ liệu yêu cầu chất lượng dữ liệu phải được xem xét trên các yếu tố như tính chính xác, hợp lệ, toàn vẹn, đầy đủ, cập nhật kịp thời và thống nhất. Pháp luật đồng thời đặt trách nhiệm đối với chủ thể cung cấp, xác nhận và quản lý dữ liệu.

Điều này cho thấy giá trị pháp lý của dữ liệu không chỉ phụ thuộc vào nội dung mà còn phụ thuộc vào “chuỗi tin cậy” xung quanh nó. Một thông tin có thể đúng về thực tế nhưng nếu không xác định được nguồn, thời điểm tạo lập hoặc quá trình sửa đổi thì khả năng sử dụng để chứng minh một sự kiện có thể thấp hơn dữ liệu được quản lý, xác thực và truy nguyên đầy đủ.

Có thể hình dung ba tầng giá trị khác nhau:

·         Giá trị thông tin nằm ở việc dữ liệu cho biết điều gì

·         Giá trị kinh tế nằm ở khả năng dữ liệu tạo ra lợi ích hoặc được khai thác để tạo giá trị

·         Giá trị pháp lý nằm ở khả năng pháp luật thừa nhận quyền, nghĩa vụ hoặc giá trị chứng minh gắn với dữ liệu

Ba tầng này có thể cùng tồn tại nhưng không đồng nhất. Một tập dữ liệu rất hữu ích về thương mại vẫn có thể không đủ độ tin cậy để chứng minh một sự kiện pháp lý. Ngược lại, một dữ liệu có giá trị chứng minh cao chưa chắc có khả năng tự do khai thác thương mại.

Mức độ kiểm soát pháp lý thay đổi theo loại dữ liệu và lợi ích mà dữ liệu tác động

Dữ liệu không phải một nhóm đồng nhất. Luật Dữ liệu cho phép phân loại theo tính chất chia sẻ, gồm dữ liệu dùng chung, dữ liệu dùng riêng và dữ liệu mở; đồng thời phân loại theo mức độ quan trọng như dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng và dữ liệu khác.

Ngoài hệ thống phân loại đó, một dữ liệu còn có thể mang tính chất cá nhân. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 xác định dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể. Dữ liệu sau khi được khử nhận dạng và không còn khả năng xác định cá nhân không còn được xem là dữ liệu cá nhân theo định nghĩa của luật này.

Do đó, cùng một hoạt động “sử dụng dữ liệu” có thể dẫn đến các yêu cầu pháp lý rất khác nhau. Sử dụng dữ liệu mở không thể được đánh giá giống khai thác dữ liệu cá nhân nhạy cảm; chuyển dữ liệu nội bộ cũng không nhất thiết được xử lý giống cung cấp dữ liệu cho một bên độc lập.

Đây cũng là lý do quyền sở hữu không phải câu trả lời duy nhất. Ngay cả khi một tổ chức có quyền tài sản đối với một tập dữ liệu, việc thực hiện quyền đó vẫn phải tôn trọng những giới hạn phát sinh từ bản chất của dữ liệu và quyền của chủ thể khác.

Trong thực tế, khi xác định một tập dữ liệu có thể được khai thác đến đâu, bốn câu hỏi pháp lý nên được tách riêng:

1.    Ai là chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền đối với dữ liệu?

2.    Dữ liệu phản ánh ai hoặc lợi ích pháp lý nào?

3.    Hành vi dự kiến là lưu trữ, xử lý, chia sẻ, chuyển giao hay trao đổi giá trị?

4.    Loại dữ liệu đó có chịu một chế độ hạn chế đặc biệt hay không?

Cách tiếp cận này tránh một nhầm lẫn phổ biến: cho rằng chỉ cần chứng minh mình đã thu thập hoặc đang nắm giữ dữ liệu thì có thể toàn quyền sử dụng dữ liệu đó.

Dưới góc độ pháp luật, dữ liệu là một đối tượng phi vật chất có khả năng được kiểm soát, khai thác và tạo ra giá trị nhưng quyền đối với dữ liệu không tồn tại biệt lập. Luật Dữ liệu đã xác lập chủ sở hữu dữ liệu và coi quyền của chủ sở hữu đối với dữ liệu là quyền tài sản, song việc thực hiện quyền đó vẫn chịu sự chi phối của pháp luật dân sự, sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định chuyên ngành liên quan.

Vì vậy, giá trị của dữ liệu về mặt pháp lý không chỉ nằm ở việc dữ liệu “có giá” hay chứa thông tin hữu ích. Giá trị thực sự hình thành từ sự kết hợp giữa quyền hợp pháp đối với dữ liệu, chất lượng và khả năng xác thực của dữ liệu, mục đích khai thác được phép và các giới hạn bảo vệ lợi ích của những chủ thể có liên quan.

25/09/2026 10:01:22
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN