Hiểu luật để sống tốt đẹp hơn

Các quyền trong hoạt động công nghệ của tổ chức, cá nhân

Pháp luật hiện hành không chỉ ghi nhận quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo mà còn bảo đảm quyền tiếp cận nguồn lực, hợp tác, khai thác kết quả công nghệ và hưởng cơ chế hỗ trợ. Tuy nhiên, các quyền này luôn gắn với phạm vi hoạt động, sở hữu trí tuệ, an toàn, bảo mật và trách nhiệm tuân thủ pháp luật
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/10/2025, điều chỉnh hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Luật đồng thời xác lập nguyên tắc bảo đảm quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo, quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các chủ thể tham gia.
Các quyền trong hoạt động công nghệ của tổ chức, cá nhân

Vì vậy, nếu hiểu “quyền trong hoạt động công nghệ” theo pháp luật hiện hành, cần nhìn ở nhiều lớp: quyền tự do hoạt động, quyền tiếp cận nguồn lực, quyền hợp tác và khai thác kết quả, quyền của cá nhân hoạt động công nghệ, cũng như cơ chế bảo vệ khi hoạt động có rủi ro.

Pháp luật bảo đảm quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo như thế nào?

Một nguyên tắc nền tảng của Luật là bảo đảm quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo. Nhà nước quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chủ yếu theo hướng hậu kiểm, tập trung đánh giá kết quả thay vì can thiệp vào phương pháp, quy trình thực hiện; đồng thời bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.

Điều này có ý nghĩa quan trọng: pháp luật không đặt hoạt động công nghệ trong mô hình mà cơ quan quản lý quyết định thay chủ thể cách thức nghiên cứu hay phát triển công nghệ trong mọi trường hợp. Quyền tự chủ được thừa nhận, nhưng đi cùng nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, yêu cầu chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm đối với kết quả hoạt động.

Đối với các lĩnh vực tác động trực tiếp đến con người như y tế, công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo, quyền tự do sáng tạo còn phải đặt trong khuôn khổ pháp luật chuyên ngành và yêu cầu phát triển, ứng dụng công nghệ dưới sự giám sát, kiểm soát của con người.

Quyền trong hoạt động công nghệ được pháp luật bảo đảm đến đâu?

Tổ chức tham gia hoạt động công nghệ có những quyền nào?

Quyền của tổ chức phụ thuộc vào loại hình và vị trí pháp lý của tổ chức. Đáng chú ý, Luật bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng với chính sách, chương trình và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước đối với tổ chức ngoài công lập hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tổ chức ngoài công lập có thể:

·         Tham gia xét chọn, tuyển chọn, đặt hàng hoặc đấu thầu thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước

·         Được giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu được tạo ra từ nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước theo cơ chế của Luật

·         Tiếp cận, thuê và sử dụng hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất, thiết bị khoa học công lập và tài sản công theo nguyên tắc công khai, minh bạch, bình đẳng

·         Hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai, đầu tư mạo hiểm, tiếp cận sàn giao dịch công nghệ và các ưu đãi khác theo quy định

·         Hợp tác với tổ chức công lập trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Đối với tổ chức khoa học và công nghệ, Điều 43 còn ghi nhận quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi hoạt động được cấp phép; thành lập tổ chức, doanh nghiệp trực thuộc, văn phòng đại diện, chi nhánh; hợp tác, liên doanh, nhận tài trợ, góp vốn bằng tiền, tài sản hoặc quyền sở hữu trí tuệ; chuyển đổi thành doanh nghiệp; hưởng một số ưu đãi về thuế và được hỗ trợ sử dụng hạ tầng khoa học, công nghệ được đầu tư từ ngân sách nhà nước.

Như vậy, quyền của tổ chức không chỉ dừng ở “được nghiên cứu”, mà còn mở rộng sang tiếp cận nguồn lực, hợp tác, tổ chức hoạt động và khai thác giá trị kinh tế của kết quả công nghệ.

Cá nhân hoạt động công nghệ được pháp luật bảo đảm những quyền gì?

Điều 51 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định trực tiếp về quyền của cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các quyền đáng chú ý gồm:

1.    Tự do sáng tạo và bình đẳng trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

2.    Được giao nhiệm vụ, trang bị phương tiện và tạo điều kiện làm việc phù hợp từ cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác

3.    Được tham gia tư vấn, đề xuất ý kiến về chính sách, pháp luật, chiến lược và kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

4.    Được hợp tác với tổ chức, cá nhân khác và ký kết hợp đồng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

5.    Được tiếp cận thông tin và cơ sở dữ liệu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để phục vụ hoạt động chuyên môn

6.    Được tham gia các tổ chức, hội, hiệp hội trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

7.    Được tham gia đào tạo, tư vấn, hội nghị, hội thảo và hợp tác quốc tế

8.    Được xét công nhận, bổ nhiệm chức danh khoa học, chức danh công nghệ theo quy định

9.    Được khen thưởng và hưởng các quyền lợi, ưu đãi, hỗ trợ theo Luật và pháp luật có liên quan

Điểm đáng chú ý là quyền tiếp cận thông tin và cơ sở dữ liệu được ghi nhận như một quyền phục vụ trực tiếp cho hoạt động chuyên môn. Điều này phù hợp với định hướng xây dựng Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để lưu trữ, chia sẻ và phổ biến kết quả cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng theo quy định.

Quyền đối với kết quả công nghệ được bảo đảm đến đâu?

Một trong những vấn đề quan trọng nhất là ai có quyền quản lý, sử dụng, sở hữu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ.

Luật quy định chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo tự quyết định việc thương mại hóa kết quả. Tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng kết quả có quyền tự chủ quyết định hình thức, phương án, giá và cách phân chia lợi nhuận trong phạm vi pháp luật cho phép. Các hình thức thương mại hóa có thể gồm cho thuê, bán, chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng, kinh doanh dịch vụ, hợp tác, liên doanh, liên kết, thành lập doanh nghiệp hoặc tự khai thác, sử dụng.

Đối với kết quả nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước, quyền này không có nghĩa là mọi tổ chức, cá nhân mặc nhiên trở thành chủ sở hữu. Quyền quản lý, sử dụng hoặc sở hữu phải được xác lập theo cơ chế pháp luật tương ứng. Khi kết quả được thương mại hóa, pháp luật còn đặt ra cơ chế phân chia lợi nhuận; đối với phần kết quả của nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước, tác giả được thưởng tối thiểu 30% lợi nhuận thu được từ một số hình thức khai thác, hoặc tối thiểu 30% giá trị kết quả được xác định trong một số hình thức góp vốn, hợp tác, liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ hoặc thành lập doanh nghiệp.

Vì vậy, quyền đối với kết quả công nghệ phải được tách khỏi quyền của người trực tiếp tạo ra kết quả. Việc xác định chủ sở hữu, người được giao quyền quản lý, người sử dụng và quyền lợi của tác giả còn phụ thuộc nguồn kinh phí, hợp đồng, cơ chế giao quyền và pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Pháp luật có bảo vệ người thực hiện công nghệ khi kết quả không thành công không?

Có, nhưng đây là cơ chế chấp nhận rủi ro có điều kiện, không phải quyền miễn trách nhiệm tuyệt đối.

Luật quy định tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể được loại trừ trách nhiệm hành chính, miễn trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định, không gian lận, không cố ý vi phạm pháp luật và không sử dụng sai mục tiêu, phạm vi kinh phí.

Đối với nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước hoặc một số nguồn kinh phí được luật quy định, tổ chức thực hiện cũng không phải hoàn trả kinh phí đã sử dụng đúng mục tiêu, phạm vi nếu kết quả không đạt mục tiêu đề ra nhưng quá trình thực hiện đã tuân thủ quy định quản lý, quy trình nghiên cứu và biện pháp phòng ngừa rủi ro.

Điểm cốt lõi là pháp luật đang phân biệt “thất bại do rủi ro nghiên cứu, công nghệ được chấp nhận” với “thất bại do vi phạm, gian lận hoặc sử dụng sai nguồn lực”. Vì vậy, việc một công nghệ chưa đạt mục tiêu không tự động đồng nghĩa với việc người thực hiện phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Quyền trong hoạt động công nghệ bị giới hạn bởi những điều kiện nào?

Quyền trong hoạt động công nghệ được bảo đảm rộng, nhưng không phải quyền tuyệt đối. Có ít nhất bốn nhóm giới hạn quan trọng.

Thứ nhất, giới hạn bởi pháp luật chuyên ngành. Hoạt động công nghệ trong các lĩnh vực nhạy cảm như y tế, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo hoặc các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến con người phải đồng thời tuân thủ pháp luật chuyên ngành và các yêu cầu kiểm soát tương ứng.

Thứ hai, giới hạn bởi sở hữu trí tuệ và quyền của chủ thể khác. Luật cấm chiếm đoạt, sử dụng trái phép kết quả nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân khác hoặc hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ ba, giới hạn bởi bí mật nhà nước, dữ liệu và an toàn. Nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc có thể ảnh hưởng đến khả năng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không thuộc phạm vi phải phổ biến, công bố; việc tiết lộ hoặc sử dụng trái phép dữ liệu nhạy cảm gây ảnh hưởng đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc an ninh quốc gia cũng bị nghiêm cấm.

Thứ tư, quyền phải đi cùng trách nhiệm. Tổ chức, cá nhân được hưởng quyền tự chủ nhưng đồng thời phải tuân thủ liêm chính khoa học, đạo đức nghề nghiệp, quy định chuyên môn và trách nhiệm giải trình. Đặc biệt, tổ chức, cá nhân sử dụng ngân sách nhà nước hoặc hưởng ưu đãi, hỗ trợ, tài trợ của Nhà nước có trách nhiệm phổ biến, lan tỏa tri thức và công bố kết quả theo quy định, đồng thời phải bảo đảm các ngoại lệ về bí mật nhà nước và khả năng bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Quyền trong hoạt động công nghệ theo pháp luật hiện hành vì thế có thể hiểu là quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo được đặt trong một cơ chế tự chủ tương đối rộng, đi kèm quyền tiếp cận nguồn lực, hợp tác, khai thác kết quả, hưởng ưu đãi và cơ chế chấp nhận rủi ro. Đối với tổ chức, quyền còn bao gồm khả năng tham gia các chương trình, nhiệm vụ sử dụng ngân sách và thương mại hóa kết quả theo cơ chế được giao. Đối với cá nhân, trọng tâm là tự do sáng tạo, tiếp cận thông tin, hợp tác, tham gia hoạt động chuyên môn và hưởng các quyền lợi liên quan.

Giới hạn của các quyền này nằm ở chính phạm vi pháp luật cho phép: không xâm phạm quyền của chủ thể khác, không vi phạm sở hữu trí tuệ, không làm lộ bí mật hoặc dữ liệu được bảo vệ, không gian lận và phải tuân thủ quy trình khi muốn được hưởng cơ chế bảo vệ rủi ro.

15/09/2026 08:04:28
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN